ông dân công nghệ cao - Kỳ 3: Biến hoa tươi thành “bất tử” hoa tươi mãi mãi , hoa tuoi uop
Nhờ khả năng này mà ông Hóa được nhiều người gọi là “phù thủy” hoa. Những bông hoa được ông ướp tươi, đổi màu khiến chúng tôi ngỡ ngàng bởi sự sinh động, mềm mại và tươi nguyên như hoa ở ngoài vườn.
Đam mê
Đó là kết quả của 5 năm trời ông Hóa mày mò nghiên cứu, thậm chí suýt “tan cửa nát nhà”. “Nếu không đam mê thì không thể nào làm được”, ông Hóa nói. Hơn 35 năm trước, ông Hóa từ Bình Định vào sinh sống ở Đà Lạt với nghề trồng rau và sau đó gắn bó với hoa hồng. Năm 2000, có người bạn ông ở Pháp về ghé thăm và kể với ông chuyện ở Pháp, người ta có thể làm cho hoa hồng tươi suốt 4 - 5 năm không hư hỏng, bán với giá 7 USD/bông. Nghe vậy ông Hóa nghĩ ngay đến số phận hẩm hiu của những nông dân trồng hoa như mình, bởi dù tốn rất nhiều công sức, kỹ thuật để trồng và chăm sóc nhưng hoa hồng chỉ bán được với giá vài trăm đồng/bông, thậm chí có lúc không thu được đồng nào. Thế là ông nhờ người bạn khi về Pháp mua gửi bông để xem thế nào“Một tháng sau, bông hoa ấy được gửi từ Pháp về, đúng là hoa thật. Vì sao lại tươi lâu như thế, nhất định là họ nhuộm hay ướp rồi sấy gì đây. Chuyện này ám ảnh khiến nhiều đêm tôi suy nghĩ mãi và quyết định làm thử”, ông Hóa kể. Thế là, ông lục tung các trang mạng tìm hiểu nhưng không thấy ở đâu nói đến kỹ thuật này. Đánh liều, ông khăn gói đi TP.HCM tìm mua đủ loại thuốc nhuộm mang về, rồi sẵn hoa hồng ngoài vườn ông cắt vào “nhúng tới, nhúng lui”, nhúng cả năm trời vẫn không có kết quả gì. Không chịu bỏ cuộc, ông lại tìm hiểu và rồi nhờ một người quen đang đi học bên Nhật Bản hỏi thăm về loại hoa này để biết họ nhuộm bằng thuốc gì. Người quen này đã tìm được “tung tích” và mua giúp ông 5 loại thuốc nhuộm hoa. Có thuốc nhưng không biết cách nhuộm hoa, chỉ ít hôm thì ông hết thuốc nhưng cũng có kết quả bước đầu là hoa lâu hư hơn. Tiếp tục chi ra 50 triệu đồng, ông nhờ mua thêm 7 loại thuốc mang về nhuộm. Lần này hoa để được 1 tháng vẫn không hư nhưng màu sắc không đẹp. Nghĩ có thể do thiếu máy móc, ông vét hết mấy trăm triệu đồng còn lại để mua máy sấy, máy hút chân về thử nghiệm. Hết tiền, vợ phản đối, nợ chồng lên nợ, ông vẫn âm thầm đi mượn bạn 50 triệu đồng gửi mua thuốc về làm tiếp. Hết thất bại này đến thất bại khác, cuối cùng ông đã tìm ra công thức. Cuối năm 2005, ông đã cho ra lò 200 bông hồng sấy để lâu được 8 tháng.
Biến đổi màu hoa
Có kết quả khả quan, ông Hóa liền mang hết giấy tờ nhà cửa đi vay mượn tiền về đầu tư nhà xưởng (200 m2), mua sắm thiết bị hết hơn 700 triệu đồng. Tháng 6.2006, ông bán lô hàng hoa hồng sấy khô đầu tiên (3.000 bông) cho một khách hàng người Nhật với giá 16.000 đồng/bông. Được đối tác cho mượn vốn, ông đầu tư thêm vào nhà xưởng và tiếp tục thành công.
Khoảng 1 năm sau, ông Hóa nhận thấy hoa sấy khô phải qua các khâu tẩy, nhuộm, sấy nên phá vỡ cấu trúc, tế bào của hoa khiến hoa mau hư hơn vì khô cứng, dễ bị vỡ. Ông lại mày mò nghiên cứu và bỏ công đi học nghề nhuộm hết 6 tháng trời để biết công thức pha màu. Cuối cùng ông tìm ra quy trình ướp tươi giúp hoa được mềm mại hơn. Không chỉ hoa hồng, ông còn tìm ra quy trình ướp tươi cho nhiều loại hoa khác như cẩm chướng, bibi, cẩm tú cầu, salem, cúc, đồng tiền…Hoa có thể được xử lý với hàng chục màu khác nhau, ông có thể làm cả hoa hồng đen. Sản phẩm hoa tươi ướp của ông Hóa đã có mặt trên khắp thị trường trong nước, xuất sang cả những thị trường khó tính như Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Pháp, Singapore… Hiện tùy theo loại và kích cỡ, mỗi hoa tươi ướp được ông Hóa bán với giá từ 5.500 - 300.000 đồng/bông.
Bằng hoa tươi ướp, ông Hóa còn sáng tạo ra cả ngàn bức tranh hoa lớn nhỏ, giá bán từ vài trăm ngàn đồng đến hơn 20 triệu đồng/bức. Dịp Festival Hoa Đà Lạt năm 2010, hướng về 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, ông Hóa cùng với 3 họa sĩ, nghệ nhân khác đã mất hơn 3 tháng trời để cho ra đời một bức tranh hoa tươi ướp lớn kỷ lục với kích thước 2,4 m x 1,75 m, gồm 1.000 đóa hồng tươi ướp, kinh phí làm bức tranh đến 100 triệu đồng.
Cuối năm 2011, ông Nguyễn Công Hóa còn có một đột phá khác khi nghiên cứu thành công kỹ thuật đột biến sắc tố hoa hồng, tác động làm biến đổi màu hoa ngay cả khi hoa đang trồng trong vườn với quy trình chỉ trong 4 ngày. Khách hàng chỉ cần vào vườn chọn những cành hoa ưng ý rồi cho biết màu ưa thích, 4 ngày sau ông sẽ cung cấp hoa đúng yêu cầu. Không chỉ vậy, ông Hóa cũng đã nghiên cứu ướp tươi thành công một bông hoa có 2, 3 màu sắc khác nhau và hiện đang nghiên cứu quy trình ướp tươi hoa nhưng không can thiệp màu mà vẫn giữ nguyên màu sắc tự nhiên của hoa.
Hiện nay mỗi bông hoa hồng tươi ướp khô được bán với giá 16.000 đồng, nếu xuất bán ra ngoài giá từ 2 - 2,5 USD/bông. Điều đáng nói là hoa tươi ướp có nhiều màu sắc mới lạ, đẹp và có độ bên rất lâu, có thể giữ được màu sắc từ 5 - 10 năm. Anh Hóa cho biết, hiện đã có 11 công ty, cửa hàng trong nước thường xuyên đặt mua hoa tươi ướp khô của anh và đã bán sang các nước Nhật, Anh, Pháp, Hàn Quốc... Cũng từ các sản phẩm hoa tươi uớp này đã phục vụ cho công nghệ trang trí các bình hoa, lẵng hoa, tranh hoa... được nhiều người yêu hoa ưa thích.
Ngoài ra, anh Hóa còn phối hợp với các cộng sự sáng tạo hàng trăm bức tranh hoa có giá rất cao. Công nghệ đầy sáng tạo của anh Nguyễn Công Hóa đã mở ra hướng kinh doanh, sản xuất mới không chỉ cho gia đình anh Hóa mà còn cho cả những người trồng hoa khác ở Đà Lạt...
Năm 2010 phù thủy Nguyễn Công Hóa được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam trao giấy công nhận: "Người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu thành công kỹ thuật ướp hoa tươi để bảo quản lâu dài". Và, 1.000 đoá hoa hồng ướp của anh Hóa được dùng để trang trí bức tranh sơn dầu khổ lớn (dài 2,4m, cao 1,75m) mừng kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội được Trung tâm sách Kỷ lục VN công nhận "Bức tranh hoa tươi lớn nhất, có số lượng hoa nhiều nhất..."
Cuối năm 2011, nghệ nhân Nguyễn Công Hóa còn nghiên cứu thành công và đưa ra kỹ thuật tạo đột biến sắc tố trên cây hoa hồng ngay khi cây hoa còn đang ở trên luống. Theo đó, anh Hóa sẽ can thiệp khiến màu sắc bông hoa biến đổi theo ý muốn, tạo ra trên từng cánh hoa những đường viền, hoa vân, màu sắc lạ mắt trong khi cây hoa vẫn phát triển bình thường. Kỹ thuật mới này đang được anh Hóa làm hồ sơ đề nghị công nhân quyền sở hữu trí tuệ....
Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Launay, Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi chép "Rai Gon Thong" (Sài Gòn Thượng) và "Rai Gon Hạ" (Sài Gòn Hạ).
Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ "Lũy Sài Gòn" (theo Hán Nho viết là "Sài Côn"). Đây là lần đầu tiên chữ "Sài Gòn" xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Nếu đọc theo Nômlà "Gòn", còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là "Côn".
Sau đó danh xưng Sài Gòn được dùng để chỉ các khu vực nằm trong lũy Lão Cầm (năm 1700), lũy Hoa Phong(năm 1731) và lũy Bán Bích (năm 1772), chỉ với diện tích 5 km².
Ngày 11 tháng 4 năm 1861, sau khi chiếm được thành Gia Định, Phó Đô đốc Léonard Charner ra nghị định xác định địa giới thành phố Sài Gòn (tiếng Pháp: Ville de Saigon) bao gồm cả vùng Sài Gòn và Bến Nghé. Đến ngày 3 tháng 10 năm 1865, quyền thống đốc Nam Kỳ, chuẩn đô đốc Pierre Roze đã ký nghị định quy định lại diện tích của thành phố Sài Gòn chỉ còn 3km2 tại khu Bến Nghé cũ, đồng thời cũng quy định thành phố Chợ Lớn (tiếng Pháp: Ville de Cholon) tại khu vực Sài Gòn cũ. Từ đó tên gọi Sài Gòn chính thức dùng để chỉ vùng đất Bến Nghé, và tên Chợ Lớn để chỉ vùng Sài Gòn cũ. Sau năm 1956, tên gọi Sài Gòn được dùng chung để chỉ cả 2 vùng đất này.
Tuy nhiên giả thuyết này bị phát bỏ vì mơ hồ và thiếu thuyết phục, vì tên gọi Sài Gòn được ghi chép từ ngay trước khi người Hoa bỏ Cù Lao Phố về Sài Gòn.
Ông Petrus Trương Vĩnh Ký là người đưa ra thuyết này. Trong tiểu giáo trình Địa lý Nam Kỳ, ông đã công bố một danh sách đối chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokor.
Hai ông Nguyễn Đình Đầu và Lê Trung Hoa đều đồng ý với thuyết này, dựa theo lịch sử và ngữ âm.
Theo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623, một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor và Kras Krabei của Cao Miên để đặt phòng thu thuế. Tới năm 1674, Cao Miên có biến, chúa Nguyễn sai Nguyễn Dương Lâm đánh và phá luỹ Sài Gòn. Vậy, từ 1623 tới 1674, vùng Prei Nokor, hay Sài Gòn, đã phát triển lắm.
Đó là theo sử sách, còn theo tiếng nói thì Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là "thị trấn ở trong rừng", "Prei" hay "Brai" là "rừng", "Nokor" hay "Nagara" là "thị trấn". Đây là vùng mà chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế.
Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành "Sài", Nokor bị bỏ "no" thành "kor", và từ "kor" thành "gòn".
Thuyết này được hai học giả là Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Quả thật, trên phương diện ngữ âm, thì "Thầy Ngòn", "Xi Coón" rất giống "Sài Gòn". Tuy nhiên, giả thuyết này về sau bị chứng minh tính bất hợp lý khi phát hiện tài liệu ghi lại tên gọi Sài Gòn đã được sử dụng từ trước 1778.
Hiện tại, Đề Ngạn (堤岸) vẫn được dùng trong tiếng Hoa để chỉ khu vực Chợ Lớn.
Đam mê
Đó là kết quả của 5 năm trời ông Hóa mày mò nghiên cứu, thậm chí suýt “tan cửa nát nhà”. “Nếu không đam mê thì không thể nào làm được”, ông Hóa nói. Hơn 35 năm trước, ông Hóa từ Bình Định vào sinh sống ở Đà Lạt với nghề trồng rau và sau đó gắn bó với hoa hồng. Năm 2000, có người bạn ông ở Pháp về ghé thăm và kể với ông chuyện ở Pháp, người ta có thể làm cho hoa hồng tươi suốt 4 - 5 năm không hư hỏng, bán với giá 7 USD/bông. Nghe vậy ông Hóa nghĩ ngay đến số phận hẩm hiu của những nông dân trồng hoa như mình, bởi dù tốn rất nhiều công sức, kỹ thuật để trồng và chăm sóc nhưng hoa hồng chỉ bán được với giá vài trăm đồng/bông, thậm chí có lúc không thu được đồng nào. Thế là ông nhờ người bạn khi về Pháp mua gửi bông để xem thế nào“Một tháng sau, bông hoa ấy được gửi từ Pháp về, đúng là hoa thật. Vì sao lại tươi lâu như thế, nhất định là họ nhuộm hay ướp rồi sấy gì đây. Chuyện này ám ảnh khiến nhiều đêm tôi suy nghĩ mãi và quyết định làm thử”, ông Hóa kể. Thế là, ông lục tung các trang mạng tìm hiểu nhưng không thấy ở đâu nói đến kỹ thuật này. Đánh liều, ông khăn gói đi TP.HCM tìm mua đủ loại thuốc nhuộm mang về, rồi sẵn hoa hồng ngoài vườn ông cắt vào “nhúng tới, nhúng lui”, nhúng cả năm trời vẫn không có kết quả gì. Không chịu bỏ cuộc, ông lại tìm hiểu và rồi nhờ một người quen đang đi học bên Nhật Bản hỏi thăm về loại hoa này để biết họ nhuộm bằng thuốc gì. Người quen này đã tìm được “tung tích” và mua giúp ông 5 loại thuốc nhuộm hoa. Có thuốc nhưng không biết cách nhuộm hoa, chỉ ít hôm thì ông hết thuốc nhưng cũng có kết quả bước đầu là hoa lâu hư hơn. Tiếp tục chi ra 50 triệu đồng, ông nhờ mua thêm 7 loại thuốc mang về nhuộm. Lần này hoa để được 1 tháng vẫn không hư nhưng màu sắc không đẹp. Nghĩ có thể do thiếu máy móc, ông vét hết mấy trăm triệu đồng còn lại để mua máy sấy, máy hút chân về thử nghiệm. Hết tiền, vợ phản đối, nợ chồng lên nợ, ông vẫn âm thầm đi mượn bạn 50 triệu đồng gửi mua thuốc về làm tiếp. Hết thất bại này đến thất bại khác, cuối cùng ông đã tìm ra công thức. Cuối năm 2005, ông đã cho ra lò 200 bông hồng sấy để lâu được 8 tháng.
Biến đổi màu hoa
Có kết quả khả quan, ông Hóa liền mang hết giấy tờ nhà cửa đi vay mượn tiền về đầu tư nhà xưởng (200 m2), mua sắm thiết bị hết hơn 700 triệu đồng. Tháng 6.2006, ông bán lô hàng hoa hồng sấy khô đầu tiên (3.000 bông) cho một khách hàng người Nhật với giá 16.000 đồng/bông. Được đối tác cho mượn vốn, ông đầu tư thêm vào nhà xưởng và tiếp tục thành công.
Khoảng 1 năm sau, ông Hóa nhận thấy hoa sấy khô phải qua các khâu tẩy, nhuộm, sấy nên phá vỡ cấu trúc, tế bào của hoa khiến hoa mau hư hơn vì khô cứng, dễ bị vỡ. Ông lại mày mò nghiên cứu và bỏ công đi học nghề nhuộm hết 6 tháng trời để biết công thức pha màu. Cuối cùng ông tìm ra quy trình ướp tươi giúp hoa được mềm mại hơn. Không chỉ hoa hồng, ông còn tìm ra quy trình ướp tươi cho nhiều loại hoa khác như cẩm chướng, bibi, cẩm tú cầu, salem, cúc, đồng tiền…Hoa có thể được xử lý với hàng chục màu khác nhau, ông có thể làm cả hoa hồng đen. Sản phẩm hoa tươi ướp của ông Hóa đã có mặt trên khắp thị trường trong nước, xuất sang cả những thị trường khó tính như Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Pháp, Singapore… Hiện tùy theo loại và kích cỡ, mỗi hoa tươi ướp được ông Hóa bán với giá từ 5.500 - 300.000 đồng/bông.
Bằng hoa tươi ướp, ông Hóa còn sáng tạo ra cả ngàn bức tranh hoa lớn nhỏ, giá bán từ vài trăm ngàn đồng đến hơn 20 triệu đồng/bức. Dịp Festival Hoa Đà Lạt năm 2010, hướng về 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, ông Hóa cùng với 3 họa sĩ, nghệ nhân khác đã mất hơn 3 tháng trời để cho ra đời một bức tranh hoa tươi ướp lớn kỷ lục với kích thước 2,4 m x 1,75 m, gồm 1.000 đóa hồng tươi ướp, kinh phí làm bức tranh đến 100 triệu đồng.
Cuối năm 2011, ông Nguyễn Công Hóa còn có một đột phá khác khi nghiên cứu thành công kỹ thuật đột biến sắc tố hoa hồng, tác động làm biến đổi màu hoa ngay cả khi hoa đang trồng trong vườn với quy trình chỉ trong 4 ngày. Khách hàng chỉ cần vào vườn chọn những cành hoa ưng ý rồi cho biết màu ưa thích, 4 ngày sau ông sẽ cung cấp hoa đúng yêu cầu. Không chỉ vậy, ông Hóa cũng đã nghiên cứu ướp tươi thành công một bông hoa có 2, 3 màu sắc khác nhau và hiện đang nghiên cứu quy trình ướp tươi hoa nhưng không can thiệp màu mà vẫn giữ nguyên màu sắc tự nhiên của hoa.
Cách ướp Hoa tươi
Giữ lại vẻ đẹp tự nhiên của hoa mong muốn của con người trong nhiều thế kỷ. Người ta cố gắng giữ nét đẹp của hoa bằng cách tạo ra hoa vãi, hoa giấy, hoa đất hay vẽ chúng lên tranh, điêu khắc… Nhưng dường như điều đó vẫn không thỏa mãn được mong ước giữ lại màu sắc, hình dáng của một bông hoa tươi
Từ đầu thế kỷ 21 người ta đã có thể giữ lại vẻ đẹp của những bông hoa tươi bằng công nghệ ướp hoa hay còn gọi là hoa tươi bảo quản.
HOA TƯƠI ƯỚP ĐƯỢC SÁNG CHẾ NHƯ THẾ NÀO?
Tài liệu lưu trữ lâu nhất đề cập về hoa tươi bảo quản của Pastentstorm được xuất bản từ năm 1992 nhưng tài liệu đầy đủ nhất có lẽ là năm 2001 – đề tài của Mark Clardy. Đề tài này đề cập đến người sáng chế là Scott M Reeves nhưng chúng tôi không tìm thấy tài liệu ai là người đầu tiên sáng chế ra loại hoa tươi bảo quản hay nó được xuất phát đầu tiên từ quốc gia nào. Dẫu sao đi nữa những thông tin mà tài liệu này đưa ra cũng hữu ích cho những ai quan tâm đến công nghệ ướp hoa
Người ta đã suy nghĩ và nghiên cứu để giữ một bông hoa tươi lâu bằng nhiều cách. Dễ dàng nhất là tạo ra hoa giả từ những chất liệu như nhựa hay vãi. Nhưng điều này vẫn không nắm được cái hồn của hoa. Người ta bắt đầu bảo quản hoa hóa học hay sấy khô hoa.
Cả hai phương pháp này ảnh hưởng đến chất lượng của hoa sau khi cắt cành và có thể làm chúng yếu đi. Sáp dầu hỏa cũng được đưa vào để bảo quản hoa. Nhưng sắc màu của hoa tự nhiên sau đó bị mờ đi vì sáp dầu hỏa, cuối cùng biến thành màu nâu thẫm. Thêm vào đó, bảo quản hoa tươi bằng sáp dầu hỏa gây ra nguy cơ cháy nổ, ngộ độc hay những ảnh hưởng từ độc chất mà sáp dầu hỏa sinh ra.
Bước thứ 2, các keo bảo vệ sẽ được áp dụng sau khi tráng mật ong. Các keo bảo vệ này thông thường là sơn mài tự nhiên cũng có thể là Acrytic. Chất bảo vệ này phải không độc và thân thiện với môi trường vì không sử dụng hóa chất hóa học. Ngoài ra nó cũng bảo vệ hoa ngăn chặn một lớp màng trắng xuất hiện theo thời gian và bảo vệ hoa bởi nhiệt độ cao trong quá trình vận chuyển. Phương pháp này được áp dung thông qua phun HVLP (một phương pháp phun) trên hoa và để khô tự nhiên và sẽ mất 10 ngày đến 2 tuần để hoàn tất.
Từ đầu thế kỷ 21 người ta đã có thể giữ lại vẻ đẹp của những bông hoa tươi bằng công nghệ ướp hoa hay còn gọi là hoa tươi bảo quản.
HOA TƯƠI ƯỚP ĐƯỢC SÁNG CHẾ NHƯ THẾ NÀO?
Tài liệu lưu trữ lâu nhất đề cập về hoa tươi bảo quản của Pastentstorm được xuất bản từ năm 1992 nhưng tài liệu đầy đủ nhất có lẽ là năm 2001 – đề tài của Mark Clardy. Đề tài này đề cập đến người sáng chế là Scott M Reeves nhưng chúng tôi không tìm thấy tài liệu ai là người đầu tiên sáng chế ra loại hoa tươi bảo quản hay nó được xuất phát đầu tiên từ quốc gia nào. Dẫu sao đi nữa những thông tin mà tài liệu này đưa ra cũng hữu ích cho những ai quan tâm đến công nghệ ướp hoa
Người ta đã suy nghĩ và nghiên cứu để giữ một bông hoa tươi lâu bằng nhiều cách. Dễ dàng nhất là tạo ra hoa giả từ những chất liệu như nhựa hay vãi. Nhưng điều này vẫn không nắm được cái hồn của hoa. Người ta bắt đầu bảo quản hoa hóa học hay sấy khô hoa.
Cả hai phương pháp này ảnh hưởng đến chất lượng của hoa sau khi cắt cành và có thể làm chúng yếu đi. Sáp dầu hỏa cũng được đưa vào để bảo quản hoa. Nhưng sắc màu của hoa tự nhiên sau đó bị mờ đi vì sáp dầu hỏa, cuối cùng biến thành màu nâu thẫm. Thêm vào đó, bảo quản hoa tươi bằng sáp dầu hỏa gây ra nguy cơ cháy nổ, ngộ độc hay những ảnh hưởng từ độc chất mà sáp dầu hỏa sinh ra.
Nhu cầu cần có một phương pháp để bảo quản hoa nhằm giữ lại màu sắc, kích thước, hình dạng… luôn thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu. Phương pháp ngày nay được áp dụng để cải tiến việc bảo quản hoa tươi cắt cành hay tạo ra loại hoa tươi bảo quản lâu năm. Phương pháp này thực hiện bằng cách phủ một lớp sáp mật ong lên hoa, cung cấp thêm một chất bịt kín nhằm giúp cho sáp mật ong giữ lại sự đổi màu của hoa. Một dạng khác của sáng chế là bước phủ sẽ bao gồm cả việc ngâm bông hoa vào dung dịch hydrat và làm sạch hoa cắt cành rồi phủ một lớp sáp mật ong, thuốc nhuộm và nước hoa cũng có thể được thêm vào. Bước đệm bao gồm áp một chất bị kín lên sáp mật ong.Để chi tiết hơn bạn có thể xem thêm nội dung bên dưới.Trong phương pháp này những mẫu hoa tươi được áp dụng là hoa tươi cắt cành có chiều dài từ 6-8 inch (15-24 cm). Hoa sau đó được ngâm hydrat và đưa vào nước có nhiệt độ lạnh từ 3 đến 12 tiếng. Sau khi được ngâm lạnh hoa sẽ được loại bỏ những lá hay cánh hoa xấu. Những bông hoa cắt cành phải có khả năng tươi 24h sau khi cắt mới được thực hiện. Những hoa có thể bảo quản tốt là những hoa có độ ẩm thấp như hoa hồng, tulip, lan, phong lữ, cúc, oải hương, hoa dại….
Sau khi hoa được ngâm trong hydrat và nước lạnh thì nhanh chóng đưa vào sáp ong nóng chảy. Lúc này người ta cũng đồng thời đưa nước hoa và thuốc nhuộm vào hoa. Hoa được quay tròn để nhuộm màu. Hoa để trong sáp mật ong nóng chảy chỉ từ 1- 2 giây. Sau đó đổi ngược chiều và quay tròn từ 15-30 giây và lại tiếp tục được đổi ngược và quay thêm 15-30 giây nữa.Sáp mật ong có nhiệt độ khoảng 150-160 độ F (65-70 độ C). Sáp mật ong sẽ tan chảy từ từ. Các thùng sáp mật ong luôn được bao bọc xung quanh bởi nước. Nhiệt độ tối ưu để sáp mật ong có thể bảo quản tốt hoa hồng là khoảng 157 độ F (69 độ C). Sáp mật ong được lấy ở tự nhiên nên không độc, đảm bảo môi trường và không gây ra cháy nỗ. Thuốc nhuộm được đưa vào sau đó. Thuốc nhuộm phải làm sao gần gũi với tự nhiên. Màu đỏ, vàng, xanh, tím, hồng… được sử dụng sao cho gần với tự nhiên nhất. Sau khi đưa vào sáp mật ong nóng chảy và thuốc nhuộm hoa phải được làm lạnh ngay lập tức ở nhiệt độ từ 40-45 độ F (4-7 độ C). Người ta sẽ loại bỏ những bông hoa xấu hay những yếu tố có thể làm hư hoại hoa. Giai đoạn này có thể mất đến 10 ngày.Bước thứ 2, các keo bảo vệ sẽ được áp dụng sau khi tráng mật ong. Các keo bảo vệ này thông thường là sơn mài tự nhiên cũng có thể là Acrytic. Chất bảo vệ này phải không độc và thân thiện với môi trường vì không sử dụng hóa chất hóa học. Ngoài ra nó cũng bảo vệ hoa ngăn chặn một lớp màng trắng xuất hiện theo thời gian và bảo vệ hoa bởi nhiệt độ cao trong quá trình vận chuyển. Phương pháp này được áp dung thông qua phun HVLP (một phương pháp phun) trên hoa và để khô tự nhiên và sẽ mất 10 ngày đến 2 tuần để hoàn tất.
Ba năm trở lại đây, giới sành chơi hoa trong và ngoài nước biết đến sản phẩm hoa tươi ướp với nhiều màu sắc độc đáo mang thương hiệu Đà Lạt. Nhưng có lẽ nhiều người chưa biết để làm được điều này, tác giả đã mất hơn 10 năm nghiên cứu, thí nghiệm. Đó là một nông dân Đà Lạt, quê gốc ở Bình Định – anh Nguyễn Công Hóa.
Nghe tôi tự giới thiệu mình cũng là con dân Bình Định, anh Hóa hồ hởi, cởi mở hẳn. Nét chất phát, thô hào đặc trưng của người Bình Định lồ lộ ra.
Anh Hóa vốn cũng chỉ là một nông dân quen trồng rau, hoa để mưu sinh và nuôi đam mê võ thuật. Năm 1990, khi trò chuyện với một anh bạn người Pháp đang tham quan làng hoa Vạn Thành – nơi anh cư ngụ, anh Hóa nghe nói đến kỹ thuật ướp hoa để giữ cho hoa tươi rất lâu. Nghe kể mà cứ nửa tin nửa ngờ, mãi sau này, lúc nhận đóa hoa ướp rất đẹp mà người bạn gởi sang từ Pháp anh mới thật sự tin rằng có loại công nghệ kỳ diệu như thế. Nâng niu đóa hoa, anh Hóa nảy ra ý nghĩ táo bạo – phải nghiên cứu để tự mình cũng có thể ướp hoa.
Nghe tôi tự giới thiệu mình cũng là con dân Bình Định, anh Hóa hồ hởi, cởi mở hẳn. Nét chất phát, thô hào đặc trưng của người Bình Định lồ lộ ra.
Anh Hóa vốn cũng chỉ là một nông dân quen trồng rau, hoa để mưu sinh và nuôi đam mê võ thuật. Năm 1990, khi trò chuyện với một anh bạn người Pháp đang tham quan làng hoa Vạn Thành – nơi anh cư ngụ, anh Hóa nghe nói đến kỹ thuật ướp hoa để giữ cho hoa tươi rất lâu. Nghe kể mà cứ nửa tin nửa ngờ, mãi sau này, lúc nhận đóa hoa ướp rất đẹp mà người bạn gởi sang từ Pháp anh mới thật sự tin rằng có loại công nghệ kỳ diệu như thế. Nâng niu đóa hoa, anh Hóa nảy ra ý nghĩ táo bạo – phải nghiên cứu để tự mình cũng có thể ướp hoa.
Một số mẫu hoa hồng đã được chuyển đổi màu sắc khi ướp khô.
Một nông dân đam mê nghiên cứu.
Tuy nhiên khi đem ý tưởng này đến hỏi một số giáo sư, các nhà nghiên cứu chuyên ngành Hóa, Sinh ở Đà Lạt, TP.HCM... thì chưa ai biết công nghệ này. Chẳng chịu thua, anh Hóa lặng lẽ xuống TP. HCM tìm mua một số loại hóa chất vốn thường được dùng để ướp các loại rau, quả mang về thí nghiệm...
Riêng từ năm 2002 đến năm 2005, giai đoạn mà “ướp hoa” đã làm một ám ảnh dễ chịu, anh Hóa đã "nướng" không biết bao nhiêu bông hồng của gia đình và hàng trăm triệu đồng tiền hóa chất, tài liệu. Cuối năm 2005, trong hàng ngàn thí nghiệm, cuối cùng cũng có những bông hoa giữ được màu sắc và độ tươi. Nhưng đó cũng là lúc anh kiệt mọi nguồn tiền.
Anh đi vay mượn của bạn bè được 50 triệu đồng và tiến hành thử nghiệm trên hơn 3.000 bông hồng, tiếp tục hoàn chỉnh công nghệ ướp hoa của mình. Và thành công đã đến với "nhà khoa học trình độ lớp 12" này, những bông hồng đầu tiên (chủ yếu màu đỏ và màu vàng) sau khi được ướp theo kiểu Nguyễn Công Hóa đã giữ nguyên màu sắc, mềm mại và nền nã y hệt như những bông hoa tươi mới cắt từ ruộng hoa lên.
Hơn 3.000 bông hồng được ướp thành công đầu tiên gây chấn động thành phố Hoa. Báo chí, các Đài PT- TH liên tục đến phỏng vấn, đưa tin. Với đà thành công, anh Hóa tiếp tục thử nghiệm và ướp thành công thêm 16 loài hoa khác nhau như: cẩm chướng, đồng tiền, sa lem, bi bi, cẩm tú cầu, cúc ngàn sao, hoa sứ, hoa hồng sa mạc... và các loại lá, quả khác để làm phụ kiện trang trí....
"Phù thuỷ" đổi màu sắc hoa hồng.
Không dừng với công nghệ ướp giữ nguyên màu sắc hoa, anh Hóa còn nghiên cứu và nhuộm hàng chục sắc màu khác nhau cho hoa. Đặc biệt, đối với hoa hồng, từ 5 màu sắc tự nhiên, đến nay "phù thuỷ" Nguyễn Công Hóa đã "hóa phép" thành công một bộ hoa tươi ướp khô với 42 màu sắc mới rất đẹp và độc đáo mà bất cứ ai được chiêm ngưỡng không khỏi ngất ngây như: hoa hồng màu tím, màu Chocola, hoa hồng màu xanh với nhiều màu sắc khác nhau: xanh đen, xanh lục, xanh lá chuối non, xanh lơ... Đặc biệt, hoa hồng màu đen kỳ bí vốn chỉ có trong truyền thuyết qua bàn tay người nông dân quê gốc Bình Định đã hiện hữu trước con mắt thán phục của nhiều người!
Tuy nhiên khi đem ý tưởng này đến hỏi một số giáo sư, các nhà nghiên cứu chuyên ngành Hóa, Sinh ở Đà Lạt, TP.HCM... thì chưa ai biết công nghệ này. Chẳng chịu thua, anh Hóa lặng lẽ xuống TP. HCM tìm mua một số loại hóa chất vốn thường được dùng để ướp các loại rau, quả mang về thí nghiệm...
Riêng từ năm 2002 đến năm 2005, giai đoạn mà “ướp hoa” đã làm một ám ảnh dễ chịu, anh Hóa đã "nướng" không biết bao nhiêu bông hồng của gia đình và hàng trăm triệu đồng tiền hóa chất, tài liệu. Cuối năm 2005, trong hàng ngàn thí nghiệm, cuối cùng cũng có những bông hoa giữ được màu sắc và độ tươi. Nhưng đó cũng là lúc anh kiệt mọi nguồn tiền.
Anh đi vay mượn của bạn bè được 50 triệu đồng và tiến hành thử nghiệm trên hơn 3.000 bông hồng, tiếp tục hoàn chỉnh công nghệ ướp hoa của mình. Và thành công đã đến với "nhà khoa học trình độ lớp 12" này, những bông hồng đầu tiên (chủ yếu màu đỏ và màu vàng) sau khi được ướp theo kiểu Nguyễn Công Hóa đã giữ nguyên màu sắc, mềm mại và nền nã y hệt như những bông hoa tươi mới cắt từ ruộng hoa lên.
Hơn 3.000 bông hồng được ướp thành công đầu tiên gây chấn động thành phố Hoa. Báo chí, các Đài PT- TH liên tục đến phỏng vấn, đưa tin. Với đà thành công, anh Hóa tiếp tục thử nghiệm và ướp thành công thêm 16 loài hoa khác nhau như: cẩm chướng, đồng tiền, sa lem, bi bi, cẩm tú cầu, cúc ngàn sao, hoa sứ, hoa hồng sa mạc... và các loại lá, quả khác để làm phụ kiện trang trí....
"Phù thuỷ" đổi màu sắc hoa hồng.
Không dừng với công nghệ ướp giữ nguyên màu sắc hoa, anh Hóa còn nghiên cứu và nhuộm hàng chục sắc màu khác nhau cho hoa. Đặc biệt, đối với hoa hồng, từ 5 màu sắc tự nhiên, đến nay "phù thuỷ" Nguyễn Công Hóa đã "hóa phép" thành công một bộ hoa tươi ướp khô với 42 màu sắc mới rất đẹp và độc đáo mà bất cứ ai được chiêm ngưỡng không khỏi ngất ngây như: hoa hồng màu tím, màu Chocola, hoa hồng màu xanh với nhiều màu sắc khác nhau: xanh đen, xanh lục, xanh lá chuối non, xanh lơ... Đặc biệt, hoa hồng màu đen kỳ bí vốn chỉ có trong truyền thuyết qua bàn tay người nông dân quê gốc Bình Định đã hiện hữu trước con mắt thán phục của nhiều người!
Hoa hồng đen.
Ngoài ra, anh Hóa còn phối hợp với các cộng sự sáng tạo hàng trăm bức tranh hoa có giá rất cao. Công nghệ đầy sáng tạo của anh Nguyễn Công Hóa đã mở ra hướng kinh doanh, sản xuất mới không chỉ cho gia đình anh Hóa mà còn cho cả những người trồng hoa khác ở Đà Lạt...
Năm 2010 phù thủy Nguyễn Công Hóa được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam trao giấy công nhận: "Người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu thành công kỹ thuật ướp hoa tươi để bảo quản lâu dài". Và, 1.000 đoá hoa hồng ướp của anh Hóa được dùng để trang trí bức tranh sơn dầu khổ lớn (dài 2,4m, cao 1,75m) mừng kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội được Trung tâm sách Kỷ lục VN công nhận "Bức tranh hoa tươi lớn nhất, có số lượng hoa nhiều nhất..."
Cuối năm 2011, nghệ nhân Nguyễn Công Hóa còn nghiên cứu thành công và đưa ra kỹ thuật tạo đột biến sắc tố trên cây hoa hồng ngay khi cây hoa còn đang ở trên luống. Theo đó, anh Hóa sẽ can thiệp khiến màu sắc bông hoa biến đổi theo ý muốn, tạo ra trên từng cánh hoa những đường viền, hoa vân, màu sắc lạ mắt trong khi cây hoa vẫn phát triển bình thường. Kỹ thuật mới này đang được anh Hóa làm hồ sơ đề nghị công nhân quyền sở hữu trí tuệ....
Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thành phố Hồ Chí Minh là tên gọi chính thức từ tháng 7 năm 1976 khi được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên từ Sài Gòn. Hiện nay tên gọi Sài Gòn vẫn được nhắc đến như tên bán chính thức của thành phố này.Những ghi chép đầu tiên về tên gọi Sài Gòn
Địa danh Sài Gòn trên 300 năm và từng được dùng để chỉ một khu vực với diện tích khoảng 1 km² (Chợ Sài Gòn) có đông người Tàu (người Trung Quốc) sinh sống trong thế kỷ thứ 18. Địa bàn đó gần tương ứng với khu Chợ Lớn ngày nay.Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Launay, Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi chép "Rai Gon Thong" (Sài Gòn Thượng) và "Rai Gon Hạ" (Sài Gòn Hạ).
Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ "Lũy Sài Gòn" (theo Hán Nho viết là "Sài Côn"). Đây là lần đầu tiên chữ "Sài Gòn" xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Nếu đọc theo Nômlà "Gòn", còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là "Côn".
Sau đó danh xưng Sài Gòn được dùng để chỉ các khu vực nằm trong lũy Lão Cầm (năm 1700), lũy Hoa Phong(năm 1731) và lũy Bán Bích (năm 1772), chỉ với diện tích 5 km².
Ngày 11 tháng 4 năm 1861, sau khi chiếm được thành Gia Định, Phó Đô đốc Léonard Charner ra nghị định xác định địa giới thành phố Sài Gòn (tiếng Pháp: Ville de Saigon) bao gồm cả vùng Sài Gòn và Bến Nghé. Đến ngày 3 tháng 10 năm 1865, quyền thống đốc Nam Kỳ, chuẩn đô đốc Pierre Roze đã ký nghị định quy định lại diện tích của thành phố Sài Gòn chỉ còn 3km2 tại khu Bến Nghé cũ, đồng thời cũng quy định thành phố Chợ Lớn (tiếng Pháp: Ville de Cholon) tại khu vực Sài Gòn cũ. Từ đó tên gọi Sài Gòn chính thức dùng để chỉ vùng đất Bến Nghé, và tên Chợ Lớn để chỉ vùng Sài Gòn cũ. Sau năm 1956, tên gọi Sài Gòn được dùng chung để chỉ cả 2 vùng đất này.
Bến Củi
Dọc theo con đường Nam tiến của dân tộc Việt Nam có nhiều bến bên các dòng sông: Bến Vân đồn, Bến Thủy, Bến Hải, Bến Quan, Bến Ván, Bến Thóc, Bến Đình, Bến Tranh, Bến Tre, Bến Súc, Bến Tắm Ngựa, Bến Thành, Bến Thành... Một số địa danh bị biến đổi như Bến Ván đã được đổi ra Bản Tân, Bến Thóc đã đổi ra Mễ Tân. Rất có thể địa danh Bến Củi đã được đổi ra Sài Tân hoặc Sài Ngạn (do người Quảng Đông sống ở khu vực này gọi bến (bờ) bằng chữ Ngạn, củi gỗ là Sài. "Sài Ngạn" (được phát âm như là "Xây-cóon" hay "Xi-cóon") có lẽ do phát âm trại thành "Sài Gòn".Tuy nhiên giả thuyết này bị phát bỏ vì mơ hồ và thiếu thuyết phục, vì tên gọi Sài Gòn được ghi chép từ ngay trước khi người Hoa bỏ Cù Lao Phố về Sài Gòn.
Prei Nokor
Dựa theo lịch sử và phát âm có thuyết cho là "Sài Gòn" là được phiên âm từ "Prei Nokor" hay từ "Thầy Ngồn" mà ra. Prei Nokor nguyên là dinh của phó vương Chân Lạp thuộc vùng Chợ Lớn tới chùa Cây Mai, là dấu vết của một "thành phố" có từ thời Tiền Angkor (theo nhà sử học Pháp Louis Malleret). Tuy nhiên không có tài liệu nào khẳng định rằng nơi đây từng tồn tại khu dân cư trước thế kỷ 16.Ông Petrus Trương Vĩnh Ký là người đưa ra thuyết này. Trong tiểu giáo trình Địa lý Nam Kỳ, ông đã công bố một danh sách đối chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokor.
Hai ông Nguyễn Đình Đầu và Lê Trung Hoa đều đồng ý với thuyết này, dựa theo lịch sử và ngữ âm.
Theo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623, một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor và Kras Krabei của Cao Miên để đặt phòng thu thuế. Tới năm 1674, Cao Miên có biến, chúa Nguyễn sai Nguyễn Dương Lâm đánh và phá luỹ Sài Gòn. Vậy, từ 1623 tới 1674, vùng Prei Nokor, hay Sài Gòn, đã phát triển lắm.
Đó là theo sử sách, còn theo tiếng nói thì Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là "thị trấn ở trong rừng", "Prei" hay "Brai" là "rừng", "Nokor" hay "Nagara" là "thị trấn". Đây là vùng mà chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế.
Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành "Sài", Nokor bị bỏ "no" thành "kor", và từ "kor" thành "gòn".
Các giả thuyết về nguồn gốc tên gọi Sài Gòn
Đề Ngạn
Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 người Pháp là Aubaret và Francis Garnier. Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine, và Garnier, Cholen, thì năm 1778 người Hoa ở Cù lao Phố (Biên Hòa) vì giúp đỡ nhà Nguyễn nên bị quân nhà Tây Sơn tàn sát phải rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), chọn vùng đất ở giữa đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, ngày sau thành phố Chợ Lớn. Năm 1782 họ lại bị quân nhà Tây Sơn tàn sát một lần nữa. Ít lâu sau họ xây dựng lại, đắp đê cao nên đặt tên chỗ mới là "Tai-Ngon", hoặc "Tin-Gan", phát âm theo giọng Quảng Đông là "Thầy Ngồn" hay "Thì Ngòn", đọc theo âm Hán-Việt là "Đề Ngạn" (堤岸). Họ dùng danh từ "Tây Cống" hoặc "Xây-cóon", "Xi-cóon" để ám chỉ vùng người Việt ở tức chợ Bến Thành ngày nay.Thuyết này được hai học giả là Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Quả thật, trên phương diện ngữ âm, thì "Thầy Ngòn", "Xi Coón" rất giống "Sài Gòn". Tuy nhiên, giả thuyết này về sau bị chứng minh tính bất hợp lý khi phát hiện tài liệu ghi lại tên gọi Sài Gòn đã được sử dụng từ trước 1778.
Hiện tại, Đề Ngạn (堤岸) vẫn được dùng trong tiếng Hoa để chỉ khu vực Chợ Lớn.